• VNIT

     

    Chào mừng các bạn đã ghé thăm website chia sẻ tổng hợp của VNIT™.

    Đây chỉ là một trang giải trí tổng hợp đơn thuần! Không vụ lợi, hay mua bán! với tinh thần "Share For All, Free For You"

     "Hãy tìm kiếm trước khi đặt câu hỏi".

    Vậy nên, bạn hãy tận dụng chức năng [Search] của site.

    Website chính thức đi vào hoạt động từ: 01/01/2008.

                   
  • Lượt Truy Cập

    • 51,400
  • Số Người Online

    blogger xem blogoutils webmaster

  • Giá Trị Website


    Website này có giá:

  • Ảnh Đẹp

    More Photos

400 Câu Hỏi Nữ Giới Cần Biết (19)

Tiếp theo phần 18

73. Nên chú ý sinh hoạt tình dục như thế nào sau khi sinh?

Sau khi sinh con, do bề mặt tổn thương trong tử cung vẫn chưa lành, sự cân bằng về chất kiềm, chất acid trong âm đạo vẫn chưa khôi phục lại, nhất là máu sinh còn chưa ra sạch nên vi trùng dễ xâm nhập vào và sinh sôi phát triển. Sau khi sinh nếu sinh hoạt tình dục quá sớm, sẽ là nhân tố đưa vi trùng vào trong âm đạo, gây viêm nhiễm cho âm đạo và tử cung.

Hơn nữa, việc giao hợp có thể làm cho người phụ nữ hưng phấn, kích thích các tạng khí trong khoang chậu vẫn chưa hồi phục hoàn toàn, bị xung huyết, khiến sức đề kháng bệnh tật bị kém đi, dễ bị viêm khoang chậu. Vì thế, khi chưa hết máu sinh, tuyệt đối cấm sinh hoạt tình dục. Để tử cung trở lại bình thường, phải mất khoảng từ 6 đến 8 tuần. Do đó sau khi sạch máu sinh, cũng nên tránh sinh hoạt tình dục.

Cho đến khi được 2 tháng, bề mặt tổn thương ở trong tử cung đã lành, tử cung hoàn toàn hồi phục trở lại như cũ thì có thể sinh hoạt tình dục. Đối với những sản phụ bị rách cửa mình hoặc bị tổn thương sản đạo, việc sinh hoạt tình dục nên chậm lại một chút, như vậy có lợi cho việc lành vết rách, chống được vi trùng xâm nhập vào. Ngoài ra còn cần phải chú ý rằng, khi bắt đầu sinh hoạt tình dục, nhất định phải chú ý tránh thai. Vì có một số phụ nữ, tuy không hành kinh trong thời kỳ cho con bú những vẫn có thai.

74. Bố trí việc ăn uống như thế nào sau khi sinh?

Để lấy lại sức lực đã tiêu hao và bị tổn thương trong quá trình sinh con, sản phụ cần được bổ sung các chất dinh dưỡng, vừa là để chuẩn bị cho thời kỳ bú sữa của trẻ. Vì thế phải cho sản phụ ăn các món ăn ngon, có độ đạm cao, thuần chất sau khi sinh. Nên ăn các loại thực phẩm dễ tiêu hóa mà giàu chất dinh dưỡng. Thường sau khi sinh một ngày bắt đầu cảm thấy khát, phải uống nhiều nước và cho ăn các thức ăn dễ dẫn lưu. Sang ngày thứ hai, có thể ăn những món ăn thanh đạm, hơi loãng, mềm như phở, mì, trứng gà trần, cháo kê… Việc ăn cháo kê, đường phèn, trứng gà, vừng là một tập tục tốt, vì có nhiều chất sắt và vitamin… Sang ngày thứ ba trở đi thì có thể ăn các món ăn có độ đạm cao một cách bình thường, nhưng phải chú ý nhiệt lượng của thức ăn, trong món ăn phải có đủ chất albumin, chất khoáng và vitamin, có thể tăng vừa phải lượng trứng, tôm và một số món ăn chế từ đậu. Ngoài ra, do nằm lâu, cơ bụng và cơ hố chậu nhỏ lỏng rão, đường ruột co bóp kém, dễ bị táo bón nên vẫn phải ăn nhiều canh cá, canh thịt, cũng có thể ăn nhiều rau. Mặt khác, không nên bắt sản phụ quá kiêng khem trong việc ăn uống. Đối với những trường hợp không cho sản phụ ăn tạp, chỉ cho ăn tinh, thậm chí kiêng này kiêng nọ, chỉ cho uống nước cháo, đều là những cách làm sai.

75. Cần chú ý ăn uống những gì trong thời kỳ cho con bú?

Dinh dưỡng của trẻ sơ sinh đều lấy từ sữa mẹ. Cho nên yêu cầu về nhiệt lượng và chất dinh dưỡng cần cho người mẹ đang cho con bú, thường nhiều hơn bình thường và lượng thức ăn trong thời kỳ cho con bú phải nhiều hơn lúc bình thường 1/3. Vì thế trong thời kỳ cho con bú, trừ mỗi ngày ăn 3 bữa ra còn phải cho ăn thêm, để giữ sức khỏe cho cơ thể mẹ. Hơn nữa chất lượng thức ăn mà người mẹ ăn vào có liên quan chặt với chất lượng và lượng của sữa. Chẳng hạn nếu lượng dinh dưỡng trong cơ thể người mẹ không tốt thì sẽ làm giảm lượng sữa, rồi đến chất albumin, chất béo, nhiệt lượng cũng không đủ, sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu của trẻ. Nếu trong thành phần thức ăn chỉ chủ yếu dùng các lương thực chính mà không ăn gì đến lương thực phụ, trong sữa sẽ thiếu mất chất albumin dành cho cơ thể thì sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, lớn lên của trẻ. Do đó trong bữa ăn của sản phụ, ngoài việc phải đảm bảo số lượng cần thiết mà còn phải đảm bảo chất lượng. Có thể ăn tăng thêm thịt gà, trứng, thịt, cá và các nội tạng của động vật (như tim, gan, thận…). Vì những thức ăn này không những có acidamin rất cần cho cơ thể con người mà còn có nhiều loại sinh tố mà con người cần. Đồng thời cong phải ăn nhiều loại hoa quả và rau tươi chẳng hạn như táo, chuối, quýt, sơn tra và rau, rau cải dầu, hồng, cà rốt… Đây là những loại rau và hoa quả giàu chất sắt và đồng, đồng thời có cả vitamin B1 và các vitamin khác. Để bổ sung chất canxi mà cơ thể cần, có thể ăn nhiều canh xương, canh đậu phụ. Như vậy vừa đáp ứng được nhu cầu của cơ thể mẹ, lại có đủ sữa tốt đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng phát triển của trẻ sơ sinh. Nhưng phải chú ý không được ăn các chất quá béo, ngọt, đồ rán và các chất kích thích như nóng, cay, để tránh làm tổn thương dạ dày, đường ruột, gây chán ăn, làm kém sữa. Phải duy trì chế độ ăn uống hài hòa, đủ chất này cho đến khi cai sữa. Có những người khi đang nuôi con bú lại ăn rất ít, kết quả là không đủ sữa, gây khó khăn cho việc nuôi con.

76. Vì sao phải thận trọng dùng thuốc trong thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ?

Khi người mẹ dùng thuốc trong thời kỳ đang cho con bú, có khá nhiều loại thuốc tiết ra qua sữa, chẳng hạn như các loại thuốc Atropin, thuốc phiện, các loại thuốc có chứa hàm lượng iod, thuốc streptomycin, tetracyclin, muối acid salicylic, sulfa… Nếu trẻ bú phải loại sữa có chứa những chất thuốc này, thường bị ảnh hưởng không tốt. Nếu người mẹ sử dụng lâu dài, những loại thuốc này hoặc dùng với liều lượng cao, có lúc còn làm cho trẻ bị ngộ độc thuốc. Chẳng hạn như các loại thuốc Atropin có thể gây đỏ mặt, khô họng, tim đập nhanh, nóng ruột không yên. Thuốc Tetracyclin làm cho trẻ xạm răng… Cho nên người mẹ phải hết sức thận trọng trong việc dùng thuốc trong giai đoạn đang cho con bú. Khi phải sử dụng thuốc nếu bệnh nhẹ, thời gian điều trị ngắn, không ảnh hưởng lắm đến trẻ thì trẻ vẫn bú được. Nếu bệnh nặng, phải chữa trị lâu dài, ảnh hưởng lớn đến trẻ thì tốt nhất không cho trẻ bú nữa mà nên dùng nịt hút sữa hút sữa ra đổ đi, sau khi khỏi bệnh lại tiếp tục cho trẻ bú. Nếu là bệnh gây viêm nhiễm đầu vú thì nên bôi thuốc bên ngoài. Trước khi cho trẻ bú nên dùng nước ấm rửa sạch thuốc đi.

77. Những thay đổi của thời kỳ mang thai được hồi phục lại như thế nào sau khi sinh?

Mọi biến đổi của cơ thể mẹ trong thời kỳ mang thai, trong điều kiện bình thường, đều được hồi phục trở lại trạng thái bình thường trong khoảng thời gian sau khi sinh từ 6 đến 8 tuần.

Về bộ máy sinh dục, sau khi nhau thai xổ ra, thân tử cung đã co lại ngay chỉ to bằng đầu đứa trẻ, nặng 1 kg. Đáy tử cung cao ngang rốn, sau đó mỗi ngày lại tụt thấp xuống từ 1 đến 2 cm, khoảng 10 ngày thì tử cung xuống đến khoang chậu, dùng tay khám phần bụng đã không thể sờ thấy đáy tử cung nữa. Trong tuần đầu tiên, sau khi sinh, trọng lượng của tử cung rút xuống còn 500 gam, hết tuần thứ hai chỉ còn 350 gam. Được khoảng 8 tuần thì trọng lượng rút xuống chỉ bằng trọng lượng tử cung lúc bình thường là 60 đến 80 gam. Sau khi nhau thai xổ ra, niêm mạc tử cung theo ra cùng với máu sinh, thành tử cung lại mọc lên lớp niêm mạc mới. Trong khoảng 10 ngày sau khi sinh, các bộ phận khác trong tử cung đều được phủ một lớp niêm mạc mới sinh, làm bề mặt tử cung lành lại. Những chỗ mạch máu bị đứt gãy thì cầm lại, các tổ chức đã hoại tử và những vết máu lưu trên bề mặt của nó bong ra, hoàn toàn lành lại trong khoảng từ 6 đến 8 tuần sau khi sinh. Đẻ xong, cổ tử cung bị giãn ra, xung huyết, hơi sưng lên, trong giống như cổ tay áo. Khoảng 7 ngày sau khi sinh thì cửa cổ tử cung khép lại, cổ tử cung dần dần hồi phục trở lại hình dạng trước kia. Sau bốn tuần thì cổ tử cung hồi phục lại hoàn toàn bình thường. Nhưng do bị tổn thương sau khi sinh, hình dạng của cổ tử cung từ chỗ trước kia là hình tròn thì nay trở thành hình bẹt bị rách ngang. Bộ phận âm hộ và âm đạo, hội âm do bị rách mà bị xung huyết và sưng lên, nếp nhăn màng dính của thành âm đạo mở ra, sau khi sinh xong tuy nó dần dần hồi phục trở lại, nhưng không thể hồi phục trở lại nguyên dạng. Màng trinh bị rách nên chỉ để lại một số dấu vết. Các tổ chức xung quanh hố chậu nhỏ bị rão ra sau khi sinh, sẽ dần dần hồi phục sau 2 đến 3 tuần. Về buồng trứng, khi người phụ nữ mang thai, do nhau thai tiết ra một số chất kích thích tố, làm trứng không rụng và người có thai cũng không thấy hành kinh nữa. Sau khi sinh xong, do nội tiết tố của nhau thai không còn, buồng trứng được khôi phục lại chức năng cũ, nang noãn mới lại bắt đầu phát triển. Thường thường có thể hành kinh lại sau khoảng 6 tuần. Nếu người mẹ vẫn cho con bú thì việc hành kinh và rụng trứng có thể đến chậm hơn.

Về các hệ thống tổ chức khác trong toàn cơ thể, chẳng hạn như hệ thống tiết niệu, trong thời kỳ người mẹ mang thai, ống dẫn nước tiểu và bể thận được phình to ra, sẽ từ từ hồi phục trở lại trong khoảng thời gian từ 4 đến 6 tuần sau khi sinh, lượng nước tiểu cũng dần trở lại bình thường. Còn hệ thống hô hấp và tiêu hóa, sau khi sinh, do áp lực trong khoang bụng không còn nữa, mô hoành cách được hạ xuống nên người mẹ không còn thở hổn hển nữa mà trở lại bình thường. Ruột, dạ dày cũng trở lại vị trí bình thường, khôi phục lại chức năng cũ. Tuy vậy, sức co bóp của đường ruột hơi chậm, lại do các nguyên nhân như nằm giường lâu, ăn ít, lượng nước bài tiết nhiều… mà có thể bị táo bón, thường phải tăng cường hoạt động, ăn nhiều hoa quả, rau để chống táo bón. Về hệ thống tuần hoàn, sau khi sinh, lưu lượng máu về tĩnh mạch tăng lên rõ rệt, hồng cầu bị giảm đi, huyết áp thấp xuống, nhưng sau đó sẽ dần dần trở lại bình thường. Ngoài ra, do phải mang thai lâu ngày thành bụng bị chảy xuống, khoảng 6 tuần sau khi sinh mới thu nhỏ lại được, bề mặt da bụng cũng co lại, những vẫn còn những vân thai màu trắng.

78. Thế nào là tuổi mãn kinh?

Cuộc đời người phụ nữ, bắt đầu từ khi ra đời cho đến khi kết thúc thì sự thay đổi của tất cả các khí quan, các hệ thống trong cơ thể đều được diễn ra qua nhiều giai đoạn khác nhau kể từ tuổi thơ ấu, tuổi dậy thì, tuổi trưởng thành, tuổi mãn kinh và tuổi già.

Cái gọi là tuổi mãn kinh chính là thời kỳ chuyển đổi chức năng sinh lý phụ nữ từ chỗ chín nục sang suy thoái; cũng chính là giai đoạn quá độ, thời kỳ chuyển tiếp từ trạng thái chức năng sinh lý dồi dào sang trạng thái suy thoái của tuổi già mà Đông y gọi là “trước và sau thời kỳ mãn kinh”. Thời kỳ này chỉ kéo dài trong mấy tháng hoặc cùng lắm là mấy năm.

Thời kỳ mãn kinh có thể chia ra thành 3 giai đoạn là thời kỳ tiền mãn kinh, thời kỳ tắt kinh và thời kỳ hậu mãn kinh. Trong thời kỳ tiền mãn kinh, do nang noãn trong buồng trứng cảm ứng không nhạy với các nội tiết tố có tác dụng kích thích giới tính mà tuyến yên tiết ra, cho nên một số nang noãn bị giảm ít hẳn đi và phát dục không đầy đủ, thậm chí không chín được để rụng thành trứng mà chỉ có thể tiết ra một ít nội tiết tố ostrogen, vì thế mà mất đi khả năng sinh. Niêm mạc tử cung tăng trưởng, phát triển hay bong ra, rụng xuống đều phụ thuộc vào sự tăng lên hay giảm đi của nội tiết tố ostrogen trong máu. Vì thế mà chu kỳ kinh nguyệt rối loạn, kỳ kinh và lượng máu cũng có những biến đổi khác.

Sau đó, do chức năng buồng trứng càng ngày càng bị yếu đi, lượng nội tiết tố oestrogen tiết ra bị giảm đi đến mức không đủ làm cho niêm mạc tử cung bong ra, dẫn đến tình trạng tắt kinh. Khi đến thời kỳ tắt kinh, độ tuổi tắt kinh của người phụ nữ phần lớn trong khoảng 45 đến 50 tuổi, bình quân là 47 tuổi, có người tắt sớm ở độ tuổi 40, cũng có người kéo dài đến tận 55, 56 tuổi. Những hiện tượng này đều là những hiện tượng bình thường. Vào cuối thời kỳ tắt kinh, buồng trứng của phụ nữ càng bị xơ hóa, teo nhỏ lại, trở nên cứng hơn, cuối cùng bị mất hẳn chức năng nội tiết.

Trong thời kỳ mãn kinh, do cơ thể chuyển từ trạng thái nội tiết theo chu kỳ trong suốt một thời gian dài quá độ sang trạng thái nội tiết mới nên có nhiều biểu hiện bị rối loạn cơ năng nội tiết và mất cân bằng hệ thống thần kinh thực vật. Thế nhưng, những biểu hiện này thể hiện ra nặng hay nhẹ, nhiều hay ít, diễn ra lâu hay chóng đều có sự liên quan chặt chẽ tới thể chất, loại thần kinh, tình trạng dinh dưỡng và môi trường sống của từng cá nhân, đặc biệt là có liên quan mật thiết tới nhân tố tinh thần.

Tuy nhiên, những biểu hiện này phần lớn đều là những hiện tượng sinh lý ình thường, là những biểu hiện tạm thời, thuận theo sự điều trị xử lý của bản thân, không những có thể thích ứng dần mà còn tạo nên sự cân bằng mới về nội tiết trong đó. Những cảm giác khó chịu và hiện tượng đau đầu cũng dần dần biến mất.

79. Độ tuổi và thời gian mãn kinh của phụ nữ liên quan tới những yếu tố nào?Độ tuổi của người phụ nữ khi bước vào thời kỳ mãn kinh đã được cuốn sách ” Hoàng đế nội kinh” của Trung quốc có từ cách đây hơn 2000 năm viết rằng:

” Nữ tử…thất thất nhâm mạch hư, thái xung mạch suy thiểu…địa đạo bất thông, cố hình hoài nhi vô tử dã”; có nghĩa là: “Đàn bà… 49 tuổi thì mạch Nhâm hư, mạch (thái xung) suy giảm…địa đạo không thông, vì thế bị teo đi mà không có con”.

Điều này đã nói rõ độ tuổi trung bình của thời kỳ mãn kinh là 49 tuổi. Lúc này do chức năng buồng trứng bị thoái hóa nên không còn kinh nguyệt, không thể sinh con được nữa. Nhìn chung, độ tuổi mãn kinh bắt đầu từ tuổi 45 đến 50, bình quân là ở độ tuổi 47. Nhưng lại khác nhau tùy theo từng nước, từng khu vực. Độ tuổi tắt kinh phần lớn ở độ tuổi sớm nhất là 35 tuổi, muộn nhất là 55 tuổi, bình quân là 47 tuổi. Độ tuổi tắt kinh trung bình của phụ nữ nông thôn Trung quốc là 47,5 tuổi. Theo thống kê của một số nhà học giả của Trung quốc, số phụ nữ tắt kinh trước tuổi 40 chiếm 13,4%, số phụ nữ tắt kinh ở độ tuổi 55 chiếm 3%. Nếu tắt kinh trước độ tuổi 30 đến 40 thì là tắt kinh quá sớm, thoái hóa sớm, còn tắt kinh ở độ tuổi trên 50 thì là tắt kinh quá chậm hoặc tắt kinh muộn.

Thời gian mãn kinh là khoảng thời gian 5 năm trước khi tắt kinh và 5 năm sau khi tắt kinh, thế những có người diễn ra rất ngắn, chỉ trong mấy tháng hoặc 2 đến 3 năm, có người lại kéo dài mười mấy năm. Theo thống kê của nước ngoài, số người có thời gian mãn kinh kéo dài từ 3 đến 12 tháng chiếm 35%, số người có thời gian mãn kinh kéo dài từ 8 đến 12 tháng chiếm 40%, số người có thời gian mãn kinh kéo dài trong 24 tháng hoặc lâu hơn chiếm 25%.

Việc phụ nữ bước vào tuổi mãn kinh sớm, hay muộn, thời gian mãn kinh dài hay ngắn phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố. Theo con số thống kê, phụ nữ sống ở những niên đại khác nhau, ở các thời kỳ lịch sử khác nhau thì tuổi tắt kinh cũng khác nhau. Hơn nữa, cùng với sự chuyển dịch của từng niên đại số phụ nữ tắt kinh sớm càng ngày càng ít đi, số người tắt kinh muộn càng ngày càng theo xu hướng tăng lên. Sự thật này đã chững minh rằng: độ tuổi mãn kinh và thời gian mãn kinh của phụ nữ có kéo dài được hay không rất có thể có quan hệ chắc chắn tới sự phát triển của xã hội, tới việc cải thiện đời sống cư dân và tới tuổi thọ của con người.

Qua nghiên cứu của các nhà khoa học còn phát hiện ra mối quan hệ chặt chẽ giữa độ tuổi mãn kinh và thời gian mãn kinh với độ tuổi thấy kinh lần đầu. Đại đa số đều cho rằng: thấy kinh sớm thì khả năng tình dục, khả năng sinh con khá mạnh, tuổi sinh cũng kéo dài hơn, tuổi mãn kinh muộn hơn. Ngược lại, nếu thấy kinh muộn thì tuổi mãn kinh sớm. Cũng có nhà khoa học phát hiện ra rằng, tuổi mãn kinh và thời gian mãn kinh còn có quan hệ tới di truyền. Theo thống kê, tuổi mãn kinh và thời gian mãn kinh của đa số phụ nữ khá giống với người mẹ của họ. Có người còn quan sát, độ tuổi mãn kinh của đa số các chị em gái sinh đôi đều giống nhau, cho dù điều kiện sinh sống của những phụ nữ mang thai đôi rấtkhác nhau, những độ tuổi mãn kinh lại hoàn toàn giống nhau,thời gian mãn kinh cũng gần như nhau. Điều này đủ để chứng tỏ, độ tuổi mãn kinh và thời gian mãn kinh dài hay ngắn có liên quan chặt chẽ tới nhân tố di truyền của dân tộc. Có người đã thống kê rằng, những phụ nữ mãn kinh sớm đều thuộc loại người có thể chất gầy yếu, không có sức, có thời gian mãn kinh tương đối ngắn.

Những người mãn kinh muộn đa phần là những người có thể chất khỏe mạnh, thời gian mãn kinh khá dài. Đương nhiên vẫn còn một số nhân tố khác có ảnh hưởng tới độ tuổi mãn kinh, chẳng hạn như chịu sự hạn chế của điều kiện khí hậu ở các nước khác nhau, ở từng vùng khí hậu khác nhau. Điều kiện sống cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới độ tuổi mãn kinh. Điều kiện sống kém hay quá thừa dinh dưỡng, ăn nhiều, béo phì làm mất điều hòa sự trao đổi chất trong cơ thể… đều có thể làm cho con người ta bước vào tuổi mãn kinh sớm. Cho nên mong rằng, những phụ nữ càng gần đến tuổi mãn kinh càng nên hiểu rằng tuổi mãn kinh là quá trình sinh lý mà mỗi một phụ nữ tất phải trải qua, xin chớ quá căng thẳng lo lắng, bởi vì nhân tố tinh thần cũng là một trong những nhân tố gây ảnh hưởng tới thời kỳ mãn kinh.

Hết phần 19 …

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: